Từ tháng nuôi thứ hai, lượng thức ăn tăng nhanh trong khi khả năng phân hủy của ao gần như không đổi. Đây là thời điểm NO2 thường vượt ngưỡng an toàn mà người nuôi chỉ phát hiện khi tôm đã giảm ăn.
Dấu hiệu nhận biết sớm
Trước khi tôm chết rải, ao thường có ba biểu hiện đi cùng nhau:
- Tôm tấp mé và nổi đầu vào 4-6 giờ sáng, sau đó tự xuống khi trời sáng.
- Nhá ăn còn thức ăn dù đã giảm cữ, đường ruột tôm không đầy.
- Màu nước chuyển nâu đục, bọt khó tan ở góc ao cuối gió.
Đo NO2 hai lần mỗi tuần và ghi lại. Con số hôm nay chỉ có ý nghĩa khi so được với tuần trước.
Nguyên nhân từ đáy ao
NO2 là sản phẩm trung gian của quá trình chuyển hóa đạm. Khi vi khuẩn chuyển NH3 thành NO2 nhanh hơn tốc độ chuyển NO2 thành NO3, khí độc tích lại trong nước.
Ba yếu tố làm quá trình bị nghẽn
- Chất hữu cơ tích tụ ở đáy vượt khả năng phân hủy của vi sinh có lợi.
- Oxy hòa tan thấp về đêm, nhóm vi khuẩn chuyển hóa NO2 hoạt động kém.
- Dùng chất sát khuẩn liều cao làm mất luôn hệ vi sinh vừa gây dựng.
Lịch xử lý 5 ngày
Quy trình dưới đây áp dụng cho ao 1.000 m3, mật độ 150-200 con/m2. Kỹ thuật viên sẽ điều chỉnh theo chỉ số thực tế của ao.
| Ngày | Việc cần làm | Liều tham khảo |
|---|---|---|
| Ngày 1 | Giảm 30% lượng ăn, chạy quạt tăng oxy, đánh vi sinh xử lý nước | 500 g / 1.000 m3 |
| Ngày 2 | Đánh vi sinh đáy ao vào 8-9 giờ sáng | 500 g / 1.000 m3 |
| Ngày 3 | Đo lại NO2 và pH, giữ nguyên lượng ăn | - |
| Ngày 4 | Đánh nhắc vi sinh xử lý nước, bổ sung khoáng nếu tôm lột | 300 g / 1.000 m3 |
| Ngày 5 | NO2 giảm thì tăng ăn lại 10% mỗi cữ | - |
Phòng ngừa cho vụ sau
Xử lý khi NO2 đã cao luôn tốn kém hơn phòng từ đầu. Ba việc nên làm ngay từ tháng đầu: đánh vi sinh định kỳ 3 ngày một lần, siphon đáy theo tuần, và ghi sổ chỉ số nước để thấy xu hướng thay vì chỉ thấy con số.
*Kết quả phụ thuộc điều kiện ao nuôi, chất lượng giống và quy trình sử dụng.
